VOOZH about

URL: https://vi.wikipedia.org/wiki/Perlis

⇱ Perlis – Wikipedia tiếng Việt


Bước tới nội dung
Perlis
ﭬﺮليس
Bang
Perlis Indera Kayangan
👁 Image
👁 Image

Hiệu kỳ
👁 Image

Huy hiệu
Hiệuca:Amin amin ya Rabaljalil
👁 Image

Tọađộ: 6°30′B 100°15′Đ / 6,5°B 100,25°Đ / 6.500; 100.250
Trựcthuộc 👁 Sửa dữ liệu tại Wikidata
Thủ phủKangar
Thủ phủ Hoàng giaArau
Chínhquyền
•Đảng cầm quyềnBarisan Nasional
•Raja của PerlisTuanku Syed Sirajuddin
•Menteri BesarDatuk Seri Dr Md Isa Sabu
Diệntích[1]
•Tổng cộng821km2 (317mi2)
Dânsố (2010)[2]
•Tổng cộng227.025
Mậtđộ280/km2 (720/mi2)
Chỉ số phát triển con người
•HDI (2017)0.797(cao) (9th)
Múi giờUTC+8
Mã bưu chính01xxx
Mã điện thoại04
MãISO3166MY-09
BiểnsốxeR
Websitehttp://www.perlis.gov.my
Tôn giáo tại Perlis (2010)[3]
Tôn giáo Tỷ lệ
Hồi giáo 87.9%
Phật giáo 10.0%
Hindu 0.8%
Công giáo 0.6%
Tôn giáo truyền thống Trung Hoa 0.2%
Không tôn giáo 0.2%
Vô thần 0.2%
Khác 0.1%

Perlis (chữ Jawi: ﭬﺮليس),[4] là bang nhỏ nhất của Malaysia. Bang này nằm ở phần phía bắc của bờ biển miền tây của Bán đảo Malaysia. Perlis giáp với hai tỉnh SatunSongkhla của Thái Lan ở phía bắc và bang Kedah ở phía nam. Trong thời kỳ chi phối Perlis, người Xiêm gọi nơi đây là Palit (Tiếng Thái: ปะลิส). Perlis vốn là một phần của Kedah, mặc dù đôi khi nằm dưới quyền kiểm soát của Xiêm La hay Aceh. Sau khi người Xiêm xâm chiếm Kedah năm 1821. Thủ phủ của bang là Kangar còn Dinh thự hoàng gia nằm ở Arau.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Laporan Kiraan Permulaan 2010". Jabatan Perangkaan Malaysia. tr.27. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011.
  2. "Laporan Kiraan Permulaan 2010". Jabatan Perangkaan Malaysia. tr.iv. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011.
  3. "2010 Population and Housing Census of Malaysia" (PDF). Department of Statistics, Malaysia. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012. p. 13
  4. The Constitution of Perlis

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]